WHAT'S NEW?
Loading...

Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài


Tô Hoài

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tô Hoài (tên khai sinh: Nguyễn Sen27 tháng 9 năm 1920 – 6 tháng 7 năm 2014)[1] là một nhà văn Việt Nam. Một số tác phẩm đề tài thiếu nhi của ông được dịch ra ngoại ngữ. Ông được nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật Đợt 1 (1996) cho các tác phẩm: Xóm giếng, Nhà nghèo, O chuột, Dế mèn phiêu lưu ký, Núi Cứu quốc, Truyện Tây Bắc, Mười năm, Xuống làng, Vỡ tỉnh, Tào lường, Họ Giàng ở Phìn Sa, Miền Tây, Vợ chồng A Phủ, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ.


Tiểu sử

Tô Hoài sinh ra tại quê nội ở thôn Cát Động, Thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông cũ trong một gia đình thợ thủ công. Tuy nhiên, ông lớn lên ở quê ngoại là làng Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phườngNghĩa Đôquận Cầu GiấyHà NộiViệt Nam[2]). Bút danh Tô Hoài gắn với hai địa danh: sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức.
Bước vào tuổi thanh niên, ông đã phải làm nhiều công việc để kiếm sống như dạy trẻ, bán hàng, kế toán hiệu buôn,... nhưng có những lúc thất nghiệp. Khi đến với văn chương, ông nhanh chóng được người đọc chú ý, nhất là qua truyện Dế Mèn phiêu lưu ký. Năm 1943, Tô Hoài gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc. Trong chiến tranh Đông Dương, ông chủ yếu hoạt động trong lĩnh vựcbáo chí, nhưng vẫn có một số thành tựu quan trọng như Truyện Tây Bắc.
Từ năm 1954 trở đi, ông có điều kiện tập trung vào sáng tác. Tính đến nay, sau hơn sáu mươi năm lao động nghệ thuật, ông đã có hơn 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, truyện dài kỳ, hồi kýkịch bản phimtiểu luận và kinh nghiệmsáng tác.
Ông mất ngày 6 tháng 7 năm 2014 tại Hà Nội, hưởng thọ 94 tuổi.

Sự nghiệp văn học

Ông viết văn từ trước năm 1945, với các thể loại truyện phong phú, đa dạng. Các tác phẩm chính của ông là:
  • Dế Mèn phiêu lưu kí (1941)
  • O chuột (1942)
  • Nhà nghèo (1944)
  • Truyện Tây Bắc (1953)
  • Miền Tây (1967)
  • Cát bụi chân ai (1992)
  • Ba người khác (2006)
Truyện dài Dế Mèn phiêu lưu ký được ông viết xong vào tháng 12 năm 1941 tại Nghĩa Đô, ngoại ô Hà Nội khi đó. Đây là tác phẩm rất nổi tiếng của ông dành cho thiếu nhi.
Tác phẩm gần đây nhất của ông là Ba người khác. Sách được viết xong năm 1992 nhưng đến 2006 mới được phép in, nội dung viết về thời kỳ cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam, đã gây tiếng vang lớn và có thể so sánh với Dế Mèn phiêu lưu ký, "đã mở ra diện mạo mới cho văn chương Việt Nam" trong nền văn học hiện thực.[3][4][5]
Trong cuộc đời sáng tác, ông đã dùng nhiều bút danh khác ngoài Tô Hoài như Mai Trang, Mắt Biển, Thái Yên, Vũ Đột Kích, Hồng Hoa và Phạm Hòa.

Giải thưởng

  • Giải nhất Tiểu thuyết của Hội Văn nghệ Việt Nam 1956 (Truyện Tây bắc);
  • Giải A Giải thưởng Hội Văn nghệ Hà Nội 1970 (tiểu thuyết Quê nhà);
  • Giải thưởng của Hội Nhà văn Á-Phi năm 1970 (tiểu thuyết Miền Tây);
  • Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật (đợt 1 - 1996).
  • Giải Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội 2010[6]

Quan điểm

Đánh giá

Tưởng nhớ

Ngày 27/10/2015, hiệu sách Dế Mèn khai trương tại ngôi nhà 108, C3, tập thể Nghĩa TânHà Nội, vốn là thư phòng của nhà văn Tô Hoài trước kia. Hiệu sách Dế Mèn do chính con cháu Tô Hoài thực hiện, diện tích rộng hơn 10m2 tương lai sẽ có thêm phòng đọc mini phía trong - nơi nhà văn Tô Hoài từng ngồi viết văn, ngủ, nghỉ.[8] Ngoài các đầu sách của nhà văn Tô Hoài, hiệu sách còn có nhiều tác phẩm cho thiếu nhi, phần lớn là sách văn học. Hiệu sách cũng tạo công việc cho con cháu trong nhà, giúp các cháu có cơ hội hiểu thêm về ông và là nơi để bạn bè, người yêu sách ghé thăm như khi ông còn sống.[9]

Tô Hoài - nhà văn của những sự lạ


Tô Hoài - nhà văn của những sự lạ
Không ai bảo ông là lập dị. Ông chủ trương sống hòa vào với đời thường, song những chuyện kể dưới đây thì quả là rất... lạ. Và người viết bài này, nếu không có một thời gian làm trợ lý cho ông ở Hội Văn nghệ Hà Nội thì hẳn cũng khó hình dung rằng ở ông lại có thể nảy sinh những chuyện dị thường như thế.


Bên cạnh những tính từ biểu cảm mà các nhà thơ, nhà văn ta vẫn dùng khi ký tặng sách nhau (như “Rất yêu quý tặng...”, “Rất thân yêu tặng...”, “Rất trân trọng tặng...”) thì mấy chữ “Thân tặng...” vẫn được dùng nhiều hơn cả. Người ta có thể vung tay, hạ bút viết mấy chữ này cho những đối tượng mới gặp lần đầu mà chẳng phải đắn đo cân nhắc gì. Thậm chí, có không ít trường hợp tác giả vừa nắn nót hai chữ “Thân tặng” xong đã quay lại hỏi người đang ngồi kế bên mình: “Thân tặng gì nhỉ?”. Nghĩa là chữ “thân” ấy có thể tặng cho người “sơ” .

Nhưng với Tô Hoài thì khác, trong muôn một cách đề tặng, ông chỉ dùng độc một chữ “Tặng...” bất kể người được ông tặng sách là ai, có bề dày quan hệ như thế nào. Thoạt đầu, tôi rất ngạc nhiên về sự “kiệm” chữ này của bậc lão làng. Chí ít thì tôi cũng là trợ lý của ông (bấy giờ ông đang là Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội), hai bác cháu cùng làm việc trong một phòng... Nhưng rồi, nhìn sang các anh Vũ Quần Phương, Bằng Việt - những người tuổi tác hơn tôi nhiều và cũng đều là những vị có chức sắc ở Hội, thì sự tình cũng “rứa” cả. Bên trên chữ ký Tô Hoài cũng chỉ là mấy chữ “Tặng Vũ Quần Phương”, “Tặng Bằng Việt” gọn lỏn, không một chút sắc thái biểu cảm. Đem chuyện lạ này ra đặt vấn đề với chính Tô Hoài, ông hóm hỉnh giải thích: “Tôi chỉ đề “tặng” thế thôi. Nhỡ hôm nay “thân”, mai không “thân” nữa thì sao?”!

Lại hỏi chuyện ông đề tặng các bậc đàn anh, ví như với trường hợp nhà văn Nguyễn Công Hoan, liệu có gì khác không? Vì theo tôi được biết, Nguyễn Công Hoan đã từng có bài nhận xét (đã in trên báo) rất chí lý và thú vị về cuốn tiểu thuyết Đảo hoang của Tô Hoài. Lão nhà văn thoáng nhíu mày, rồi ông nguầy nguậy lắc đầu: “Với ai tôi cũng đều đề tặng vậy cả. Vả lại, tôi cũng rất ít tặng sách ai. Như cụ Hoan, cụ ấy đáng tuổi bố tôi, là bậc đàn anh của tôi trong văn chương. Nếu cụ muốn, thì cụ cứ việc đến lấy sách của tôi mang về, hoặc mượn ở thư viện Hội Nhà văn, chứ không cần tôi phải tặng”.

Công khai... sai chính tả

Trong những người viết, không phải ai cũng dám khẳng định như đinh đóng cột rằng mình không bao giờ viết sai chính tả. Tuy vậy, những lỗi này sẽ được hạn chế rất nhiều nếu ta là người đọc nhiều và chịu chú ý rút kinh nghiệm từ những lần “vấp” trước.

Không thể nói Tô Hoài là người không đọc nhiều. Hơn thế, ông còn thuộc số những người chịu đọc nhất Việt Nam. Và về số lượng đầu sách đã xuất bản (xấp xỉ 200 cuốn), ông hiện đứng ở vị trí mà không nhà văn Việt Nam nào sánh được. Tuy nhiên, tất cả những điều ấy không ngăn cản khi sáng tác, Tô Hoài đã để lọt nhiều lỗi chính tả. Dường như quá mải mê vào việc sửa câu, gọt chữ, ông tỏ ra lúng túng khi đối mặt với những chữ cái có cùng phụ âm: x và s, ch và tr, l và n... hoặc giả ông cứ thế bỏ qua mà chạy theo mạch ý tưởng, phó thác mọi việc cho những người sửa morat ở các nhà xuất bản và tòa báo?
Xin được giới thiệu một trích đoạn của lão nhà văn gửi tác giả bài viết này cách đây hơn chục năm: “Phạm Khải đọc lại báo cáo này, những chỗ nào tôi viết khó xem hoặc sai chính tả thì chữa, cho in ngay theo số lượng người và nơi gửi mà công văn tôi viết đây...”. Như vậy, bạn đọc có thể thấy lão nhà văn của chúng ta ý thức rất rõ những hạn chế của mình, và ông công khai thừa nhận điều này.

Nhưng có lẽ Tô Hoài không có ý buông xuôi như vậy. Gần đây tới thăm ông, nhắc lại chuyện trên, tôi thấy ông mủm mỉm cười nói, ông đã mua một cuốn Từ điển tiếng Việt và tra cứu thường xuyên khi sáng tác. Ông nói: “Có tật phải sửa. Chứ ngần này tuổi rồi, cứ để sai chính tả mãi thế... ngượng lắm!”.

Thích phiêu lưu và chịu thu lu

Tác phẩm nổi tiếng nhất của nhà văn Tô Hoài là tác phẩm kể về cuộc phiêu lưu của chú dế mèn (truyện Dế mèn phiêu lưu ký), và tác phẩm lớn nhất của đời văn Tô Hoài là những câu chuyện kể lại cuộc phiêu lưu của chính ông. Quả tình, trong số các nhà văn Việt Nam, hiếm ai được… xuất ngoại nhiều như ông già này (dễ đến gần trăm lần, đa phần là mời đích danh). Bàn chân ông đã chuyển dịch suốt từ Đông sang Tây, từ Nam xuống Bắc, từ đền Angkor Wat ở Campuchia đến Kim Tự Tháp ở Ai Cập. Tất cả những chuyến phiêu du ấy đều được ông ghi lại trong các tác phẩm của mình. Và để làm được việc này, hiển nhiên ông cũng dành không ít thời gian giam mình bên bàn viết.

Cứ theo Tô Hoài tâm sự, thì ông thuộc típ người chịu thương chịu khó. Như chú dế mèn thu lu trong tổ, ông có thể lụi cụi bên bàn viết từ ngày này sang tháng khác mà không mấy ngứa ngáy, khó chịu. Nhiều người đến thăm ông, vì không liên hệ điện thoại “đăng ký” trước nên đã phải ra về vì cụ bà đã chuẩn bị sẵn một câu trả lời thường trực, rằng cụ ông không có nhà. Thường thì Tô Hoài tập trung tinh lực để viết các cuốn truyện dài, khi nào mệt, cần xả hơi giữa chừng thì ông quay sang viết... truyện ngắn hoặc bút ký, ghi chép. Để giãn xương cốt, đôi khi ông quay về giường nằm... đọc sách.

Viết cũng là một cách... tập thể dục?

“Bởi tôi ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm” - ấy là câu ông viết về chú dế mèn. Sự thực, ở ngoài đời, việc ăn của Tô Hoài thế nào tôi không rõ, chứ riêng khoản uống thì quả là ông cũng không được điều độ cho lắm. Nghĩa là, khi vui ông vẫn uống hết mình, bất kể sức khỏe, tuổi tác. Tôi từng chứng kiến cảnh ông say, nói năng líu ríu trong một lần ông đi nhậu cùng nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Bạn đọc hẳn khó hình dung khi thấy một ông già đã cận kề tuổi 90, vậy mà lúc hứng lên vẫn có thể làm một hơi “đi” cả cốc rượu mạnh cỡ bự. Rượu đã vậy, bia hơi ông có thể làm tới... dăm vại.

Viết tới đây, bất giác tôi lại nhớ tới lần phóng viên Trang Dũng thực hiện bộ ảnh chân dung ông. Xong việc, hai ông cháu đi làm vài chầu bia ở quán Trâm Bầu, gần nhà ông. Khi về, Trang Dũng nắc nỏm ca ngợi phong độ của ông cụ. Còn Tô Hoài khi nhắc lại với tôi chuyện này, ông “chê” Trang Dũng “thanh niên mà uống kém quá”, khiến cho “lão già đành chỉ dừng lại ở mức... 3 vại”.

Tiếp xúc với Tô Hoài, nhiều người đã phải ngạc nhiên khi thấy ông mặc dù tuổi đã cao song sức vóc còn dẻo dai, trí tuệ còn tường minh lắm. Hỏi ông có năng tập thể dục không thì ông mủm mỉm cười, lắc đầu, nói thi thoảng nổi hứng ông mới lại bách bộ một vòng quanh hồ Thiền Quang. Ông bảo “sống chết có số” và kể chuyện ở phố Lê Trực đã xảy trường hợp vì quá ham tập thể dục mà một cụ ông đã chạy quá đà và ngã từ trên sân thượng nhà ba tầng xuống đường. Ông còn bảo, ông sẵn sàng đổi thời gian tập thể dục hàng ngày cho việc viết và xin trời phật nếu cần cứ “khấu trừ” vào tuổi thọ của ông.

Người “mát tính” ở nơi “đất nóng”

Những người từng làm việc với nhà văn Tô Hoài đều có chung nhận định, ông là người “mát tính”. Rất hiếm khi họ thấy ông to tiếng với ai, dù rằng ở ông, cái sự yêu - ghét cũng giống như nhiều người khác. Có lẽ sự từng trải đã khiến ông có được phản xạ “phớt lờ” phản ứng của người đời nếu điều ấy làm ông “mua bực vào mình”, ảnh hưởng tới tâm lý sáng tạo. Có phải thế chăng mà nhà thơ Vũ Quần Phương từng viết trên báo rằng, những khi cơ quan có “sự”, Tô Hoài thường cáo ốm để đi... nằm viện?

Chuyện kể rằng, một lần, Hội Văn nghệ Hà Nội tổ chức hội nghị. Một nhân vật quá khích đã tìm cách len lên diễn đàn để phát biểu công kích lãnh đạo Hội. Song nhân vật này mới nói được vài câu mào đầu đã phải chưng hửng chuyển “đề tài” vì người cần để anh ta trút nỗi niềm là cụ Tô Hoài thì mới thoáng thấy ngồi trên hàng ghế đầu, nay đã lại ở tít mãi ngoài sân, đang đứng nói chuyện với một vị khách nào đó. Việc ông bỏ ra ngoài như thế xảy ra không ít lần. Âu cũng là một cách xì van cho quả bóng bớt “căng”?

Lại một lần khác, từ phòng Chủ tịch Hội bước ra, lão nhà văn chợt nghe thấy những tiếng gay gắt phát ra từ phòng họp của Báo Người Hà Nội. Thì ra, nữ nhà thơ Phó tổng biên tập của báo đang bị một nam cán bộ cấp dưới đập bàn, dọa dẫm. Với cương vị Chủ tịch Hội, đúng ra việc này ông cần phải hỏi rõ sự tình và có ý kiến. Song có lẽ ý thức được rằng đây là “chuyện thường ngày ở... Hội” nên lão nhà văn chỉ biết cắp catáp lỉnh vội xuống cầu thang, miệng “rền rĩ” một câu đùa (cốt để các cán bộ của báo nghe thấy): “Khổ lắm, cứ mắng mỏ “người yêu” của tôi mãi thôi...”. Mọi người nghe vậy phì cười. Hóa ra câu đùa này lại có hiệu quả.

Hội Văn nghệ Hà Nội một thời được coi là “đất dữ”. Nội bộ lục đục triền miên. Đã có lãnh đạo Hội phải “nửa đường xuống ngựa”. Nhưng với Tô Hoài thì mọi sự vẫn bình chân như vại. Thì ông đã chẳng từng phát biểu: “Ai nói ở đây thường xuyên “động đất”. Tôi làm Chủ tịch Hội tới cả 30 năm, có thấy “động” gì đâu?”. Có lẽ, sự điềm tĩnh đã giúp ông “thoát hiểm” ở một môi trường có tiếng là phức tạp này.

50 câu thơ thả lên trời trong ngày thơ Việt Nam 2016

Để tuyển chọn 50 câu thơ hay trong Ngày thơ Việt Nam lần thứ 14- Ban tuyển chọn tuân thủ những chủ đề lớn của Ngày thơ năm nay. Trong đó có việc hướng tới kỷ niệm 70 năm Ngày toàn quốc kháng chiến (1946-2016). Đó cũng là lý do Ban tổ chức Ngày thơ Việt Nam lần thứ 14 tổ chức triển lãm hình ảnh và tác phẩm của các nhà thơ tiêu biểu trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954).

Các câu thơ được chọn năm nay không phải là những câu thơ hay nhất trong đời thơ của các tác giả nhưng đó là những câu thơ được viết trong thời kỳ này. Ban tuyển chọn gồm các nhà thơ Ngô Thế Oanh, Nguyễn Đức Mậu, Vương Trọng.
nguyendinhminh.net xin trân trọng giới thiệu chùm 50 câu thơ này theo nội dung đã đăng  Báo Văn nghệ số 2923.

1. Lạc tới chiêm bao, hoa một nhánh
Muốn đem tặng bạn, khó vô ngần
TRẦN NHÂN TÔNG

2. Ngâm thơ nâng chén hoàng hoa
Cuối thu giậu cúc vườn nhà còn thơm
TRẦN MINH TÔNG

3. Khách về, sư chẳng nói
Đất ngát mùi hoa thông
TRẦN QUANG THIỀU

4. Án sách cây đèn, hai bạn cũ
Song mai hiên trúc, một lòng thanh
NGUYỄN TRÃI

5. Hoa rơi có ý gì đây,
Phất phơ theo gió bám đầy áo ai
LÊ THÁNH TÔNG

6. Trên tàu chuối gửi vần thơ lại
Để bạn về xem dưới ánh trăng
ĐÀO CÔNG SOẠN

7. Chiếc cò bay lượn chân mây
Lòng quê tưởng nhớ để khuây được nào
NGÔ THÌ NHẬM

8. Kéo áo bọc ánh trăng
Không nỡ hoài phí bỏ
CAO BÁ QUÁT

9. Nỗi lòng đau đớn lạ thường
Mặt trời vàng úa vì thương kiếp người
NGUYỄN DU

10. Nước mắt trên hoa lối cũ
Mùi hương trong nệm đêm thâu
HỒ XUÂN HƯƠNG

11. Lao xao rặng trúc, hương thoang thoảng
Thăm thẳm bờ cây, sương mong manh
VŨ TÔNG PHAN

12. Sông nước chảy, núi mây bay
Mình ơi, có biết ta đây nhớ mình
TẢN ĐÀ

13.  Kháng chiến thành công ta trở lại
Trăng xưa, hạc cũ với xuân này
HỒ CHÍ MINH

14. Trộn hòa lao động với giang sơn
Có mối tình nào hơn
Tổ quốc?
TRẦN MAI NINH

15. Lòng tôi xao xuyến tình thương xót
Muốn viết bài thơ thấm lệ nhòa
Tặng những anh tôi từng rỏ máu
Đem thân xơ xác giữ sơn hà
THÔI HỮU

16. Chúng tôi đi mang cuộc đời lưu động
Qua nhiều nơi không nhớ hết tên làng
HỒNG NGUYÊN

17. Sông Đuống trôi đi một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ.
HOÀNG CẦM

18. Tiếng chim thấp thoáng ngân trong lá
Xoa dịu đường non bước gập ghềnh
KHƯƠNG HỮU DỤNG

19. Suối mang
Bóng người
Trôi những về đâu
HỮU LOAN

20. Chiều mưa lùa các cửa
Ngày bộ đội hành quân
Mẹ già không nói nữa
Nước mắt nhìn rân rân
THÂM TÂM

21. Cây đổ hiện lên chiến sĩ
Gạch vụn hiện lên anh hùng
TRẦN HUYỀN TRÂN

22. Mỗi tin súng nổ vùng đai địch
Sương trắng người đi lại nhớ người
VŨ CAO

23. Một màu lá bỗng xanh non
Tìm con mắt lá, gặp con mắt người
NGÔ QUÂN MIỆN

24. Ôm đất nước những người áo vải
Đã đứng lên thành những anh hùng
NGUYỄN ĐÌNH THI

25. Chúng ta hôn nhau
Những đất đai những chân trời gần lại
VĂN CAO

26. Sớm trông trước mặt thương xanh núi
Chiều vọng chân mây nhớ tìm trời
XUÂN DIỆU

27. Lấy dao khắc lên cây
Gửi lại cho rừng suối
Kháng chiến quên đường dài
KINH KHA

28. Có chàng qua chạm ngõ
Bỗng khói lửa ngút trời
Con đi đêm súng nổ
Vải rụng bến sông trôi

ANH THƠ
29. Chính cái nôi Việt Bắc bế bồng ta
Qua tất cả những tháng năm đầy lửa
TRẦN DẦN

30. Sách đời anh mở sang trang mới
Đường khó anh qua mấy dặm dài
BẢO ĐỊNH GIANG

31. Vẫn nghe trong máu hồn xa xứ
Non nước rồng thiêng nặng nhớ thương
HUỲNH VĂN NGHỆ

32. Bập bùng ngon lửa trong lều nhỏ
Vang tiếng bầy voi giữa rừng già
XUÂN MIỄN

33. Chim mang tiếng hót ra hong nắng
Tơ nhện vương sương trắng cỏ bờ
HOÀNG TỐ NGUYÊN

34. Hai bên bờ ruộng ngô xanh bắp
Một bến đầu xuân nụ tím cà
VÂN ĐÀI

35. Chân chưa vẹt trên nẻo đường vạn dặm
Áo nào phai không sót chút màu xưa
YÊN THAO

36. Gối đầu bảy ngày gạo
Nhìn sao rơi đỉnh mùng
HÀN THÁI LANG

37. Mấy năm qua quên hết tết tháng Giêng, quên rằm tháng Bảy
Hết núi lại khe, cay đắng đủ mùi
NÔNG QUỐC CHẤN

38.  Chói lọi sao vàng hoa vĩ đại
Năm cánh xòe trên năm cửa ô
VŨ HOÀNG CHƯƠNG

39. Mẹ già bịn rịn áo nâu
Thương đàn con ở rừng sâu mới về
HOÀNG TRUNG THÔNG

40. Nhớ hôm bộ đội hành quân ướt
Trấn thủ dầm phơi chật cả sào
HỒ VI
41. Nhớ đem nào ra đi
Nước lạnh chân cầu sông Cái
Nhìn Hà Nội hẹn ngày trở lại
LÊ ĐẠT


42. Cát rộng, đi không cùng
Em ôm từng làn gió…
Tự đáy tim day trở
Quên, nào có thể quên…
TRANG NGHỊ

43. Tôi đi làm lính Cụ Hồ
Nửa ba lô với, bộ quần áo rách…
Muối mặn gừng cay lên thác xuống ghềnh
XUÂN THIÊM

44. Một người bạn tôi gặp trong đêm ấy
Ra phố mua bao thuốc lá
Chín năm sau mới trở về nhà
HOÀI ANH

45. Những con sóng nay đã vỗ vào lịch sử
Vào lòng dân cho dân mãi anh hùng
PHẠM HỔ

48. …Đêm nay Bác ngồi đó
Đêm nay Bác không ngủ
Vì một lẽ thường tình
Bác là Hồ Chí Minh
MINH HUỆ

47. Nhớ buổi trung đoàn ta ra đi
Tháng Chạp màn sương trùm đất nước
QUANG DŨNG

48. Nếu mai nở trước sân
Anh sẽ ngừng gió bấc
Xuân này tặng gì nhau
Một cầu vồng bảy sắc
TRINH ĐƯỜNG

49. Có những phút ngã lòng
Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy
PHÙNG QUÁN

50. Ôi kháng chiến! Mười năm như ngọn lửa
Ngàn năm sau còn đủ sức soi đường
CHẾ LAN VIÊN